CHÂN DUNG CUỘC SỐNG
 
“Thương binh về làng”

PhuthoPortal - “Bây giờ là mùa mưa nên đơn vị con được chuyển về vùng Bẩy Núi (An Giang) làm nhiệm vụ truy quét tàn quân Pôn Pốt. Con mong bố mẹ đừng lo gì nhiều, cứ yên tâm sản xuất. Con rất tự hào và sung sướng vì con đã biết cầm súng góp một phần nhỏ bé vào việc giữ nước…”. Đây là những dòng thư cuối cùng mà ông Trần Văn Thượng nhận được từ người con trai thứ hai của mình là Liệt sỹ Trần Văn Lĩnh trước ngày anh hy sinh (năm 1978). Nén nỗi đau thương mất mát, người cha và cả gia đình vẫn tiếp tục sống và chiến đấu, đóng góp sức người, sức của để xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.


Thương binh Trần Văn Thượng

 

Đó là một trong rất nhiều câu chuyện xúc động mà chúng tôi được nghe kể về cuộc đời của người cựu binh Trần Văn Thượng ở khu 1, xã Dậu Dương, huyện Tam Nông. Hình ảnh người thương binh đã bước vào tuổi xưa nay hiếm vẫn hăng say, hào sảng kể về những năm tháng của đời lính chống Pháp, hay cuộc sống của một anh “thương binh về làng” với những vất vả, lo toan trên mảnh đất mới quả thực khiến chúng tôi vô cùng cảm phục.

 

Ông Thượng sinh năm 1929, quê ở huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Năm 1951, ông nhập ngũ, nhận nhiệm vụ tại đơn vị C1 - D149 - T174 - F316. Sau gần 3 năm, ông được đề bạt là Tiểu đội trưởng, Chiến sĩ thi đua của đơn vị; tham gia bảo vệ đoàn cán bộ cấp cao của trung ương từ Việt Nam sang Lào. Đầu năm 1954, đơn vị của ông nhận lệnh tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tháng 4/1954, ông bị thương trong một trận quyết chiến với địch trên đồi A1. Sau đó, ông được chuyển về Ty Thương binh Phú Thọ theo chủ trương “Đón thương binh về làng” của Chính phủ, ở lại lập nghiệp tại xã Dậu Dương, huyện Tam Nông cho đến nay. Ông được công nhận là thương binh hạng 2/4, tỷ lệ thương tật 75%.

 

Qua lời kể của ông Thượng, chúng tôi đã hiểu hơn về sự ác liệt của bom đạn, sự hy sinh của cha ông trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp. Ông kể lại: “Lúc bấy giờ, Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương. Để tiêu diệt tập đoàn cứ điểm này, Bộ Chính trị đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, thông qua phương án tác chiến chuyển từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Từ cuối tháng 3/1954, đơn vị tôi nhận lệnh cùng với các đơn vị bạn đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm, thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch. Ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Bản thân tôi được giao nhiệm vụ trực tiếp phụ trách Tổ trung liên chiến đấu với Pháp trên đồi A1. Trong một trận quyết chiến, tôi bị thương và mất nhiều máu, nhiều đồng đội cũng bị thương và đã hy sinh”.

 

Trong câu chuyện thời chiến của mình, người cựu binh già không quên nhắc đến một chi tiết vô cùng đặc biệt. Sau trận đánh với địch, anh em trong đơn vị không tìm thấy ông và nghĩ ông đã hy sinh. Giấy báo tử được gửi về quê nhà Nam Định không lâu sau đó. Trong lúc ấy, ông đã được chuyển về Ty Thương binh Phú Thọ để điều trị phục hồi sức khỏe; tham gia lao động sản xuất tại Dậu Dương, được các mẹ ở đây nhận làm con nuôi và hỏi vợ cho. Gần 1 năm sau ngày lập gia đình, ông và vợ trở về Nam Định thì mới hay ở quê nhà đã có một phần mộ mang tên ông. Cả gia đình đón ông trở về trong niềm vui, niềm hạnh phúc nghẹn ngào, vỡ òa thành nước mắt…

 

Xa mảnh đất nơi mình đã sinh ra và lớn lên, anh thương binh với cánh tay phải không còn lành lặn cùng người vợ trẻ đã ở lại mảnh đất Dậu Dương - quê hương thứ hai của mình để tiếp tục xây dựng cuộc sống mới. Phát huy phẩm chất “Bộ đội cụ Hồ”, “tàn nhưng không phế”, dù ngày nắng hay mưa, vợ chồng ông Thượng vẫn chăm chỉ cấy cày trên đồng ruộng. Rồi những đứa con lần lượt chào đời trong niềm hạnh phúc thiêng liêng của hai vợ chồng. Ông Thượng chia sẻ: “Ngày đó vất vả, khó khăn lắm! Các thương binh về đây ngoài những mảnh bom đạn trên người và những kỷ vật chiến trường thì chẳng có gì trong tay cả. Song chính quyền và bà con ở đây ai cũng yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ, tạo điều kiện để thương binh phục hồi sức khỏe và ổn định cuộc sống. Trên phần đất do địa phương phân cấp, vợ chồng tôi đã dựng lên một ngôi nhà nhỏ và tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống. Thời bao cấp thiếu thốn nhiều thứ, gia đình lại đông con nên vợ chồng tôi phải xoay xở mọi bề để lo cho các con”.

 

Ông Thượng và gia đình luôn trân trọng và gìn giữ những kỷ vật của chiến tranh

 

Ông Thượng luôn tâm niệm rằng, bản thân mình từng là người lính, thấu hiểu những gian lao, hiểm nguy mà mình và đồng chí, đồng đội phải đối mặt để có được độc lập, tự do như hôm nay. Vì thế, ngay từ khi các con còn nhỏ, ông đã luôn dạy bảo các con phát huy truyền thống yêu nước, sống xứng đáng với những gì mà cha ông ta đã gây dựng. Gạt vội giọt nước mắt rơi trên gò má, ông Thượng xúc động nói: “Vợ chồng tôi sinh được 6 người con, 4 trai, 2 gái. Lớn lên, 3 trong số 4 người con trai của vợ chồng tôi cũng theo chân bố ra chiến trận. Chiến tranh ác liệt không tránh khỏi mất mát, đau thương. Anh thứ hai đã vĩnh viễn nằm lại mảnh đất An Giang, hơn 30 năm mới được đoàn tụ với gia đình. Anh cả và anh thứ ba bị thương, may mắn còn sống trở về. Đến nay, các con, các cháu đã khôn lớn, trưởng thành, tập trung phát triển kinh tế, trở thành những người có ích cho xã hội”.

 

Không chỉ là người chồng, người cha mẫu mực, ông Thượng còn tích cực tham gia các phong trào tại địa phương. Vừa chăm lo gia đình, ông vừa tham gia công tác Đoàn Thanh niên của xã, phụ trách thiếu nhi, công an xã... Và sau này, ông lại tiếp tục tham gia hoạt động tại các hội, đoàn thể như Nông dân, Cựu chiến binh, Người cao tuổi. Ở bất cứ vị trí công tác nào ông cũng luôn tâm huyết, trách nhiệm để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Bản thân ông và gia đình luôn thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động; nhiều năm liền là gia đình văn hóa tiêu biểu của khu dân cư và của xã. Đặc biệt, từ năm 1962, gia đình ông đã tự nguyện ủng hộ hơn 300m2 đất thổ cư làm sân phơi hợp tác xã rồi xây dựng Nhà văn hóa khu dân cư.

 

Có thể nói, chính bởi những cống hiến của ông nên dù là người con xa xứ đến Dậu Dương lập nghiệp, ông và gia đình vẫn luôn được chính quyền địa phương và bà con nhân dân ở đây kính trọng, nể phục và yêu mến. Ông đã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng Huy hiệu Chiến sỹ Điện Biên Phủ; được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Chiến thắng hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

 

Chiến tranh đã qua đi song những hy sinh, đóng góp lớn lao của những người lính thời đại Hồ Chí Minh như ông Thượng vẫn luôn được trân trọng và gìn giữ; là điểm tựa vững chắc để thế hệ hôm nay tự tin bước tiếp trong tương lai.

 

Thanh Hòa


 In bài viết   Gửi phản hồi  Quay lại 
Ý kiến bạn đọc
Họ và tên  
Email  
Tiêu đề  
Nội dung  
File đính kèm