Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2017

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Trong tháng, các huyện, thành, thị đã cơ bản thu hoạch xong các loại cây trồng vụ mùa năm 2017; tích cực gieo trồng các loại cây hàng năm vụ đông 2017 - 2018 còn trong khung thời vụ; đồng thời tăng cường chuẩn bị các điều kiện để triển khai gieo cấy lúa vụ chiêm xuân 2018. Tính đến hết tháng 11/2017, diện tích gieo trồng ngô vụ đông toàn tỉnh ước đạt 7.110,8 ha, giảm 7,1% (-546 ha) so với cùng kỳ; diện tích gieo trồng cây khoai lang ước đạt 580 ha, giảm 22,5% (-168,6 ha); diện tích gieo trồng cây rau xanh các loại ước đạt 4.658,6 ha; diện tích đỗ tương vụ đông gieo trồng 44,8 ha; diện tích lạc vụ đông gieo trồng 17 ha; diện tích đỗ đậu các loại gieo trồng 75 ha;… Diện tích gieo trồng ngô vụ đông năm nay tiếp tục giảm so với cùng kỳ là do người nông dân tập trung đầu tư, gieo trồng các loại rau xanh cho thu hoạch sản phẩm nhanh hơn, có hiệu quả kinh tế cao hơn gieo trồng ngô.
Hoạt động chăn nuôi giữ ổn định, không xảy ra dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc gia cầm; chăn nuôi gia cầm đặc biệt là chăn nuôi gà phát triển. Tổng đàn trâu hiện có ước đạt 67,1 nghìn con, giảm 5,8% so với cùng kỳ; tổng đàn bò ước đạt 123,5 nghìn con, tăng 1,4%; tổng đàn lợn ước đạt 798,8 nghìn con, giảm 17,4%; tổng đàn gia cầm ước đạt 13,3 triệu con, tăng 6%, trong đó tổng đàn gà 11,4 triệu con, tăng 6,6%. Đàn bò có xu hướng tăng nhẹ do nhu cầu tiêu dùng thịt bò ngày càng cao, đàn lợn giảm do giá thịt lợn hơi vẫn ở mức thấp,...
Tổng diện tích rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đến nay ước đạt 10.200 ha, tăng 5,3% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác toàn tỉnh từ đầu năm ước đạt 527,7 nghìn m3, tăng 10,7% (riêng sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 47,9 nghìn m3); sản lượng củi khai thác ước đạt 64,9 nghìn ste, tăng 2% (riêng sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 5,9 nghìn ste).
Tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản ước đạt 10,3 nghìn ha, giữ ổn định so với cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm, tổng sản lượng thủy sản thu hoạch ước đạt 31,1 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ (riêng sản lượng trong tháng ước đạt 3,8 nghìn tấn).
2. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 11/2017 trên địa bàn tỉnh tăng 5,14% so với tháng trước và tăng 20,20% so với tháng 11 năm 2016. Cụ thể từng nhóm ngành như sau:
Nhóm ngành công nghiệp khai khoáng giảm 8,14% so với tháng trước nhưng tăng 56,70% tháng cùng kỳ năm trước.
Nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,20% so với tháng trước và tăng 19,89% so với tháng cùng kỳ năm trước. Trong nhóm ngành này có đến 13/19 ngành sản xuất tăng so với tháng trước cũng như tháng cùng kỳ, bao gồm: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (tăng 63,43% và 15,13%); Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (tăng 17,45% và 37,36%); Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn trừ máy móc, thiết bị (tăng 11,57% và 12,08%); Sản xuất thiết bị điện (tăng 11,11% và 11,11%); Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (tăng 10,78% và 17,5%); Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (tăng 3,9% và 6,57%); Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (tăng 3,73% và 38,61%); Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (tăng 3,64% và 13,56%); Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (tăng 3,4% và 28,32%); In, sao chép bản ghi các loại (tăng 2,78% và 15,63%); Dệt (tăng 2,72% và 0,14%); Sản xuất xe có động cơ (tăng 2,41% và 6,70%); Sản xuất trang phục (tăng 1,37% và 21,27%);….
Nhóm ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng,... và điều hòa không khí tăng 19,91% so với tháng trước và tăng 24,22% so với tháng cùng kỳ năm trước.
Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 8,31% so với tháng cùng kỳ năm trước.
Tính chung 11 tháng, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng 8,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm ngành công nghiệp khai khoáng tăng 39,52%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,83%; nhóm ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng,... và điều hòa không khí tăng 5,25% và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,95%;...
3. Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý
Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 11/2017 trên địa bàn tỉnh ước đạt 293,5 tỷ đồng, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 11,5% so với tháng cùng kỳ. Trong đó, nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 206,4 tỷ đồng, tăng 0,2%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 70 tỷ đồng, tăng 24,4%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 17,1 tỷ đồng, giảm 12,3%;...
Một số công trình có khối lượng thi công khá trong tháng 11/2017 gồm: Dự án hệ thống thu gom và xử lý nước thải TP Việt trì, ước đạt 35,3 tỷ đồng; Cải tạo nâng cấp đường giao thông nối các xã vùng CT229 huyện Yên Lập (xã Phúc Khánh, Thượng Long, Nga Hoàng, Xuân Thủy), ước đạt 11,3 tỷ đồng; Dự án Cải tạo, nâng cấp và gia cố tuyến đê tả sông Thao kết hợp đường giao thông đoạn Km64 - Km80 từ thị xã Phú Thọ đến cầu Phong Châu (Giai đoạn I: Đoạn từ Km64 - Km75 và tuyến nhánh đê tả ngòi Lò Lơn), ước đạt 10,3 tỷ đồng; Trạm bơm tiêu Bình Bộ, huyện Phù Ninh, ước đạt 8,7 tỷ đồng; Dự án hoàn thiện tu bổ, tôn tạo hạ tầng, cảnh quan Trung tâm lễ hội Khu di tích lịch sử Đền Hùng, ước đạt 5,1 tỷ đồng;...
Tính chung 11 tháng, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh ước thực hiện 2.716,8 tỷ đồng, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.958,5 tỷ đồng, giảm 3,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 552,3 tỷ đồng, tăng 85,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã ước đạt 206 tỷ đồng, tăng 28,3% so với cùng kỳ.
4. Thương mại, dịch vụ, giá cả
a) Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11/2017 xã hội trên địa bàn tỉnh ước đạt 2.201,9 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước; trong đó: ngành thương nghiệp ước đạt 1.938,4 tỷ đồng, chiếm 88% tổng mức, tăng 1,3%; khách sạn, nhà hàng ước đạt 180,5 tỷ đồng, tăng 0,4% và dịch vụ khác ước đạt 82,9 tỷ đồng, tăng 1,3%.
Tính chung 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 22.592,1 tỷ đồng, tăng 9,5% so cùng kỳ. Trong đó, thương nghiệp đạt 19.774,4 tỷ đồng, chiếm 87,5% tổng số và tăng 12,2%; khách sạn, nhà hàng đạt 1.936,3 tỷ đồng, tăng 7,9%; dịch vụ khác đạt 881,4 tỷ đồng, giảm 26,8% so cùng kỳ năm trước.
b) Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2017 tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 2,93% tháng 12 năm trước (sau 11 tháng); tăng 2,64% cùng tháng năm trước (sau 12 tháng);...
Các nhóm hàng tăng so với tháng trước bao gồm: Giao thông tăng 1,25%; May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,85%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,73%; Văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,25%; Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,20%;...
Tháng 11/2017, giá vàng giảm 0,14% so tháng trước, giá bán bình quân trong tháng là 3.593 nghìn đồng/chỉ; giá đô la Mỹ (USD) tăng 0,04%, giá bán bình quân trong tháng là 22.767 đồng/USD
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2017 tăng 2,10% so với cùng kỳ, nguyên nhân do tác động chủ yếu từ các nhóm: Thuốc và dịch vụ y tế (tăng 42,12%); Giáo dục (tăng 7,76%); Giao thông (tăng 6,59%);… Bình quân 11 tháng, giá vàng tăng 3,33%, giá đô la Mỹ (USD) 1,84%.
c) Vận tải hàng hoá và hành khách
Tổng doanh thu vận tải, bốc xếp, dịch vụ vận tải tháng 11/2017 ước đạt 355,9 tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 31,9 tỷ đồng, tăng 0,9%; vận tải hàng hóa ước đạt 277,3 tỷ đồng, tăng 1% so với tháng trước;...
Sản lượng hàng hoá vận chuyển trong tháng ước đạt 2.842 nghìn tấn, tăng 1% so với tháng trước; sản lượng luân chuyển hàng hóa ước đạt 156.598 nghìn tấn.km, tăng 1%.
Sản lượng vận tải hành khách đường bộ ước đạt 946,7 nghìn hành khách bằng 84.366,5 nghìn hành khách.km luân chuyển. So với tháng trước, sản lượng vận chuyển tăng 0,1% và sản lượng luân chuyển tăng 1,7%.
Tính chung 11 tháng, sản lượng vận chuyển hàng hoá ước đạt 39.070,6 nghìn tấn, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng luân chuyển hàng hoá ước đạt 2.121.309,9 nghìn tấn.km, tăng 16,7%; Sản lượng vận chuyển hành khách ước đạt 6.725,8 nghìn hành khách, tăng 15,1%, sản lượng luân chuyển hành khách ước đạt 676.395,6 nghìn hành khách.km, tăng 12,1%.
5. Một số vấn đề xã hội
a) Tình hình y tế
Tính đến hết tháng 10/2017, trên địa bàn tỉnh xuất hiện 11.600 ca mắc cúm, 2.006 ca mắc tiêu chảy, 1.474 ca mắc sốt xuất huyết, 1.081 ca mắc bệnh do virus Adeno,….
Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) được quan tâm, tính từ đầu năm đến hết tháng 10/2017 đã kiểm tra 9.130 cơ sở thực phẩm, trong đó có 83% cơ sở đạt tiêu chuẩn ATVSTP (riêng trong tháng 10, đã kiểm tra 880 cơ sở, kết quả có 83,6% số cơ sở đạt tiêu chuẩn ATVSTP).
Ngày 16/11/2017, trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm (tại trường Mầm non Hương Lung - huyện Cẩm Khê, các trẻ bị ngộ độc sau khi ăn trưa tại trường) với 83 người mắc, không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm.
b) Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong tháng, ngành chức năng đã tổ chức nhiều hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động trực quan và biểu diễn nghệ thuật nhân dịp kỷ niệm: 87 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2017); 35 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2017); 65 năm chiến thắng Chân Mộng - Trạm Thản (17/11/1952-17/11/2017);...
Nhân kỷ niệm 87 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2017) và Ngày Pháp luật Việt Nam (9/11), nhân dân các địa phương trên địa bàn tỉnh đã tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc”. Ngày hội nhằm ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy tinh thần yêu nước và sức mạnh khối Đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;...
c) Tình hình tai nạn, vi phạm giao thông
Từ ngày 16/10 đến ngày 15/11/2017, trên địa bàn tỉnh xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 3 vụ va chạm giao thông làm 10 người chết và 3 người bị thương. Tính từ đầu năm đến ngày 15/11/2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 56 vụ tai nạn giao thông giao thông đường bộ, 1 vụ tai nạn giao thông đường sắt và 50 vụ va chạm giao thông làm 59 người chết (giảm 2 người so với cùng kỳ) và 95 người bị thương (tăng 3 người so với cùng kỳ).
Từ ngày 16/10 đến ngày 15/11/2017, công an tỉnh đã lập biên bản xử lý 11.516 trường hợp vi phạm an toàn giao thông, tổng số tiền xử phạt trên 6,7 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến ngày 15/11/2017, Công an tỉnh đã lập biên bản xử lý 119.543 trường hợp, tổng số tiền xử phạt trên 64,3 tỷ đồng.
d) Tình hình cháy nổ, vi phạm môi trường
Tình hình cháy nổ: Từ ngày 17/10/2017 đến 16/11/2017 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ xảy ra 5 vụ cháy (huyện Hạ Hòa 2 vụ, TP Việt Trì 1 vụ, TX Phú Thọ 1 vụ, huyện Yên Lập 1 vụ), làm 4 người bị thương, thiệt hại ước tính 656,5 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến hết ngày 16/11/2017, trên địa bàn tỉnh xảy ra 53 vụ cháy, làm 1 người chết, 11 người bị thương, tổng giá trị thiệt hại ước tính 206,2 tỷ đồng.
Tình hình vi phạm môi trường: Từ ngày 17/10/2017 đến ngày 16/11/2017, lực lượng Cảnh sát Môi trường - Công an tỉnh đã phát hiện và xử lý 37 vụ vi phạm môi trường, với tổng số tiền xử phạt 721,1 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến ngày 16/11/2017, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện và xử lý 432 vụ vi phạm môi trường, với tổng số tiền xử phạt 10.497,7 triệu đồng.